Tình hình sản xuất và phòng trị sinh vật hại Vụ lúa Hè Thu năm 2010 tại TP. Hồ Chí Minh

Thứ ba - 05/11/2019 03:06

Năm nay, vụ lúa Hè Thu được gieo cấy chậm hơn những năm trước tại các huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Cần Giờ, phần lớn do điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, khô hạn và ngập mặn. Tuy nhiên để đảm bảo an toàn cho các đợt xuống giống cần căn cứ vào lượng mưa, độ mặn và dự báo về thời điểm rầy nâu (RN) trưởng thành di trú.

Theo kế hoạch, tổng diện tích (DT) xuống giống vụ Hè Thu năm 2010 là 7.130 ha. Thời gian xuống giống lúa Hè Thu bắt đầu từ ngày 7/4/2010 (Củ Chi: 382 ha) và chậm nhất đến ngày 15/6/2010, diện tích xuống giống đến ngày 23/6/2010 được 6.415 ha; trong đó 3.586 ha ở huyện Củ Chi, 2.386 ha ở huyện Bình Chánh, 261 ha ở huyện Hóc Môn, 88 ha ở quận Bình Tân, 34 ha ở Quận 9, 13 ha ở Quận 2 và 47 ha ở huyện Cần Giờ. Diện tích lúa xuống giống chiếm 92,4 % so với cùng kỳ năm trước, đạt 92,6 % kế hoạch vụ Hè Thu năm 2010. Trong đó, 264 ha (Bình Chánh, Cần Giờ) chưa nảy mầm và do thời tiết nắng hạn có 9,3 ha lúa ở Lý Nhơn - Cần Giờ bị chết; giai đoạn mạ: 2.069 ha, đẻ nhánh: 1.525 ha, làm đòng: 1.622 ha, trổ: 790 ha và chín: 136 ha (Củ Chi).

Để có một vụ mùa bội thu người nông dân cần phải nắm rõ tình hình sinh vật hại, phân bón, giống lúa...

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH SINH VẬT HẠI LÚA HÈ THU 2010

1. Rầy nâu, bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá

Theo dự báo của Chi cục BVTV Tp.HCM sẽ có đợt rầy di trú (từ ngày 23/4 đến ngày 01/5/2010), mật độ rầy vào đèn sẽ tăng cao, vì thời điểm này trà lúa Đông Xuân tập trung ở giai đoạn trổ - chín - thu hoạch, RN sẽ hình thành dạng cánh dài. Tuy nhiên, do việc phòng trừ và xử lý đồng ruộng tốt, mặt khác lượng rầy di trú từ miền Tây Nam Bộ cũng ở mật số thấp do đó trong đợt RN di trú này mật số RN trên đồng ruộng và lượng rầy vào đèn là rất thấp < 1.500 con/bẫy/đêm (cụ thể ngày 23/04 có 1.116 con/bẫy/đêm, sau đó giảm dần đến ngày 01/05 tăng lên là 1.115 con/bẫy/đêm).

Mặc dù tình hình rầy nâu, bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá trên các vụ lúa 2009 và vụ lúa Đông Xuân 09 – 10 tạm ổn, tuy nhiên dịch RN, bệnh VL-LXL vẫn còn là mối nguy đe dọa sản xuất lúa vụ Hè Thu năm 2010. Bởi vì vụ Lúa Đông Xuân 2009 – 2010 là cầu nối cho RN mang mầm bệnh VL-LXL lây sang trà lúa Hè Thu. Bên cạnh đó, vụ Hè Thu 2010 cũng sẽ là cầu nối cho RN mang mầm bệnh VL-LXL ảnh hưởng đến trà lúa Mùa – vụ sản xuất lúa chính tại Thành phố.

Hiện nay do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và lúa Hè Thu của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang giai đoạn đòng, trổ, chín vì vậy từ nay đến cuối tháng 7 năm 2010 sẽ có các đợt rầy nâu di trú. Do đó, cần tiếp tục theo dõi mật số rầy nâu trên đồng ruộng.

- Trên các trà lúa đang có nhiều lứa rầy gối nhau, mật số hiện nay vẫn thấp tuy nhiên do rầy trưởng thành và trứng rầy vẫn còn do vậy rầy nâu vẫn có thể gây hại nặng cục bộ trên một số ruộng có nước, giai đoạn đòng – trổ.

2. Nhện gié, bệnh Lùn sọc đen

Trước tình hình gây hại của Nhện gié và bệnh Lùn sọc đen trên cây lúa, các cơ quan chức năng đã đưa ra những cảnh báo và yêu cầu có thống kê, cập nhật thông tin thường xuyên về 2 đối tượng sâu bệnh hại trên nhằm kịp thời ngăn chặn dịch hại có thể xảy ra. Hiện nay, chưa phát hiện được diện tích nhiễm bệnh do Nhện gié và bệnh Lùn sọc đen gây ra trên địa bàn Thành phố.

3. Các sinh vật hại khác

Vụ lúa Hè Thu thường chịu áp lực của sâu bệnh và cỏ dại rất mạnh do đó cần áp dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp (IPM) trên diện rộng. Do thời tiết nắng nóng, khô hạn nên ngay từ đầu vụ bọ trĩ, đạo ôn là đối tượng SVH cần lưu ý. Giai đoạn giữa vụ do mưa, nắng xen kẽ là điều kiện thích hợp cho sự phát triển của sâu bệnh hại, cần chú ý đến các đối tượng như: sâu cuốn lá, rầy lưng trắng. Giai đoạn cuối vụ cây lúa thường bị bệnh bạc lá, khô vằn, lem lép hạt.

- Sâu cuốn lá có thể tiếp tục phát triển và gây hại trên lúa giai đoạn đẻ nhánh đến giai đoạn lúa trổ.

- Ngoài ra, cũng cần lưu ý các bệnh hại như: bệnh đốm vằn, bệnh đạo ôn sẽ gia tăng mức độ gây hại ở giai đoạn mạ đến chắc xanh. Các đối tượng khác xuất hiện và gây hại tương đối thấp.

II. QUY TRÌNH SẢN XUẤT LÚA HÈ THU

1. Vệ sinh đồng ruộng

- Tổ chức thu hoạch nhanh, gọn lúa Đông Xuân và sau thu hoạch nếu có điều kiện nên dọn sạch hoặc đốt ngay rơm rạ trên ruộng; cày vùi hay trục ruộng để diệt lúa chét, cỏ dại và ở những nơi có điều kiện nên đưa nước vào ngâm ruộng.

- Dọn sạch cỏ bờ, chú ý cỏ lồng vực, cỏ ống,…là ký chủ phụ của RN.

- Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm thời gian cách ly giữa 2 vụ lúa ít nhất 20-30 ngày.

2. Thời vụ

- Thời vụ gieo trồng vụ Hè thu 2010: 7/4/2010 đến 15/06/2010, tuy nhiên giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 là thời điểm xuống giống lúa thích hợp nhất để tránh rầy di trú vào cuối tháng 6 - tháng 7 và phù hợp với tình hình con nước.

- Thời điểm xuống giống của từng cánh đồng cần căn cứ vào số liệu bẫy đèn và phải đảm bảo có thời gian cách ly tối thiểu giữa vụ Hè thu và vụ mùa là 15-20 ngày và từ 1-3 ngày sau khi rầy vào đèn rộ để khi rầy di trú nhiều nhất thì lúa chưa gieo cấy và khi đến đợt rầy di trú của tháng sau thì lúa và mạ đã trên 25 ngày tuổi.

3. Giống lúa

- Chọn giống kháng rầy, năng suất, phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng theo khuyến cáo của cơ quan chức năng.

- Không sạ, cấy quá dày vừa tốn giống, vừa làm tăng số lượng côn trùng môi giới trong ruộng, dẫn đến làm tăng bệnh và nên sạ hàng nếu có điều kiện. Tùy vào chân đất, chất lượng hạt giống và phương pháp gieo sạ mà định lượng giống sử dụng (đối với sạ hàng: từ 70-100 kg/ha/vụ, đối với sạ lan: từ 90-120 kg/ha/vụ).

- Các giống lúa được Cục Trồng trọt khuyến cáo sử dụng tại vùng Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh:

+ Giống chủ lực: VNĐ95 – 20, OM4900, OMCS2000, ML48, ML202, IR 64, IR 59606, OM6162...

+ Giống bổ sung: VND99-3, OM3536, TH6, TH41, OM498,OM4900...

+ Giống triển vọng: OM6976, OM4218, OM661, OM8923, MTL560, PHB71.

- Thường xuyên bám sát đồng ruộng, điều tra và nắm được diễn biến của RN để có biện pháp phòng trị kịp thời, đặc biệt là những giống mẫn cảm RN của vụ Hè Thu năm 2009 (huyện Hóc Môn VND 99-3, VND 20, VND 95-5; huyện Bình Chánh là OM 3536, VND 95-20, OM 1490 và huyện Củ Chi là các giống Siêu LA, OM 3536,....).

4. Quản lý nước

- Trong tuần đầu tiên sau sạ, chỉ cần giữ mực nước ruộng từ bão hoà đến cao khoảng 1 cm.

- Mực nước trong ruộng sẽ được giữ cao khoảng 1-3 cm theo giai đoạn phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho đến khi bón phân lần 2, giai đoạn này nước là nhu cầu thiết yếu để cây lúa phát triển, cũng nhằm hạn chế sự mọc mầm của các loài cỏ.

- Giai đoạn cây lúa từ 25-40 NSS, cây lúa đẻ nhánh rộ đến đẻ nhánh tối đa và phần lớn số chồi vô hiệu thường phát triển trong giai đoạn này. Giữ mực nước trong ruộng từ bằng mặt đất đến thấp hơn mặt đất 15 cm (đặt ống nhựa có đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5cm để theo dõi mực nước bên trong ống). Cách điều tiết này sẽ làm phơi lộ mặt ruộng vì vậy còn gọi là kỹ thuật tưới “ướt khô xen kẻ”.

- Giai đoạn từ 40-45 NSS, đây là giai đoạn bón phân lần 3, cần đưa nước vào khoảng 1-3 cm trước khi bón phân nhằm để tránh phân bị ánh sáng làm phân huỷ và phân bị bốc hơi, nhất là phân đạm.

- Giai đoạn 60-70 NSS, đây là giai đoạn lúa trổ do vậy cần giữ mực nước trong ruộng cao 3-5 cm liên tục trong vòng khoảng 10 ngày để đủ nước cho cây lúa trổ, vì có nước trong ruộng sẽ tạo cho nhiệt độ trong ruộng không quá nóng, cây lúa thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép hay lửng.

- Giai đoạn 70 NSS đến thu hoạch, đây là giai đoạn lúa ngậm sữa - chắc xanh và chín, chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt đất đến thấp hơn mặt đất 15 cm; và phải “xiết nước” 10 ngày trước khi thu hoạch để mặt ruộng được khô, dễ thu hoạch.

5. Dặm tỉa

Nên cấy dặm sớm từ 14-18 ngày sau sạ vào những chỗ bị chết hay bị mất cây để đảm bảo mật độ cây trong ruộng lúa được đồng đều.

6. Phân bón

- Bón phân cân đối N-P-K, chú ý bón phân N vừa phải và nên bón lót 100% phân P và 1/2 phân N, riêng phân K và phân N còn lại chia làm 2 lần bón thúc lần 1 vào thời kỳ lúa đẻ nhánh và lần 2 khi lúa phân hóa đòng. Khuyến cáo bón tăng liều lượng K ở lần bón đón đòng.

- Vùng canh tác giống lúa ngắn ngày, hướng dẫn nông dân sử dụng bảng so màu lá lúa khi bón phân N lần 2 (vào khoảng 18-20 ngày sau sạ) và lần 3 (bón đón đòng).

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BVTV TRÊN LÚA HÈ THU 2010

1. Giải pháp kỹ thuật phòng trừ rầy nâu

- Để bảo vệ cây lúa non, khi RN trưởng thành bắt đầu vào đèn, cho nước ngập đọt lúa vào ban đêm (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ sáng hôm sau), ban ngày tháo nước ra cho đọt lúa lên khỏi mặt nước. Duy trì liên tục 3 – 4 đêm cho đến khi không thấy RN trưởng thành vào đèn nhiều.

- Giai đoạn lúa từ sau gieo sạ đến 20 ngày tuổi: nếu phát hiện RN di trú xuất hiện thì phun thuốc trừ rầy ngay. Thời điểm phun tốt nhất vào lúc RN di trú vào đèn nhiều nhất.

- Giai đoạn từ sau 20 ngày đến trổ chín: nếu phát hiện rầy ở tuổi 1 – 3, hoặc rầy trưởng thành chiếm đa số trong ruộng với mật số từ 3 con/dảnh trở lên thì phun thuốc trừ rầy. Khi sử dụng thuốc trừ RN cần bảo đảm theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng lúc, đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách) để có hiệu quả phòng trừ cao nhất.

2. Giải pháp kỹ thuật trừ bệnh VL-LXL

- Lúa bị nhiễm giai đoạn đòng - trổ - chín nhưng còn có khả năng cho năng suất, theo dõi rầy nâu nếu thấy rầy xuất hiện phải phun xịt diệt rầy, nhổ vùi cây lúa bị bệnh. Đặc biệt, sau khi thu hoạch phải vận động nông dân cày vùi để tiêu hủy mầm bệnh trên gốc rạ, lúa chét.

- Lúa bị nhiễm nặng không có khả năng cho năng suất, tổ chức tiêu hủy bằng cày vùi và hỗ trợ nông dân nhằm tránh lây lan sang vụ Mùa 2010.

3. Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật

- Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc ”4 đúng” trong phòng trừ SVH.

- Vận động nông dân áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), “ba giảm” (giảm giống, giảm phân bón nhất là đạm, giảm thuốc trừ sâu) nhằm hạn chế đầu vào, nâng cao thu nhập, giữ cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường.

Bà con nông dân cần tập trung chăm sóc và quản lý sinh vật hại trên đồng ruộng thật tốt để đảm bảo một vụ lúa bội thu./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên kết website

  • Tổng lượt truy cập 3,808,781
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây